Cây lá lốt

Không như nhiều loài cây ưa ánh sáng khác, lá lốt nằm âm thầm ở góc vườn. Loài cây cần lao này dường như biết phận mình chỉ là thứ gia vị bỏ thêm cho các món ăn nên cũng khiêm tốn cả phần đất trồng. Cây lá lốt như người dân quê nghèo khó, chỉ cần bám vội vào mấy hòn đá, cục gạch, vẩn vơ nơi góc tường, lặng lẽ bò dưới tán rợp của các loại cây khác là có thể than thản sống. Thế mà vẫn sống khỏe, tốt um tùm không cần đến người chăm bón. Vào mùa hè, được mưa trời tưới tắm nhiều, lá lốt vươn mình bò lan, xanh mướt mát. Nếu bước vào khu vườn có trồng lá lốt, không cần tinh ý lắm cũng có thể cảm nhận được mùi hương đặc trưng của loài cây này.

Đừng tưởng lá lốt lặng lẽ thế mà không có “tên chữ” đâu nhé. Theo sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn thì lá lốt còn có tên gọi khác là lâu diệp. Lâu diệp lá hình tim, mọc cách, thân thảo, chắc cùng họ với trầu không, hồ tiêu… Cây hồ tiêu thường được trồng ở miền Nam, ít có điều kiện quan sát chứ trầu không và lá lốt thì gia đình nông thôn miền Bắc nào chả trồng, nhưng cũng là trước đây thôi. Nhà bà ngoại tôi cũng từng có một giàn trầu không và đám lá lốt mọc xanh um ở góc vườn, cạnh bụi mây đầy gai. Lá lốt cũng có hoa và thật buồn cười là hoa lá lốt lại nhang nhác giống hoa sói, một loài cây chả liên quan gì. Không thơm ngát hoa sói nhưng hoa lá lốt lại mang vị thơm… cay cay như vị lá lốt. Hình như lá lốt cũng có quả nhưng với bọn trẻ con, thứ quả nào không… ăn đến thì coi như nằm ngoài bộ nhớ. Trong vườn có biết bao loại cây có thể vừa chơi, vừa nghịch lại vừa bứt ăn nhẩn nha được, nhớ làm gì đến thứ quả này. Mà cũng chẳng thấy ai thu hoạch quả để giồng lá lốt bằng cách gieo hạt, đơn giản nhất là dúi thân lá lốt vào một góc vườn, kẽ đá nào đó. Một thời gian sau quên bẵng đi mất, đi qua chỗ đó mới ngạc nhiên thấy lá lốt xanh um tự bao giờ.

Lá lốt vị cay, tính nóng thường được làm gia vị cho các món ăn tính hàn cho hấp dẫn và thêm phần kịch tính. Người ta có thể gặp lá lốt trong món ăn dân dã như xáo ốc, cua đồng rang. Món xáo ếch “gà đồng” ngon như thế nếu không có lá lốt cũng hỏng việc. Lá lốt cũng thường được dùng để cuốn chả thịt lợn, thịt bò. Người ta vẫn bảo “Có lá lốt tình phụ xương xông”, ấy là để so sánh với một loại cây khác, cũng mang mùi vị đặc trưng là xương xông. Loài cây này tính lạ lắm, không thích chỗ đất trồng là “bay” ngay, hoặc giả bay lang thang qua vùng đất nào đó là có thể hạ cánh mọc lên. Lá xương xông ai ăn không quen bảo mùi như dầu hỏa nên thường người ta vẫn thích lá lốt hơn. Ôi dào, lá lốt hay xương xông ăn đều ngon cả! Hôm nào trời lạnh, bỏ cả hai vào nồi nấu bát canh suông, cũng ngon đáo để.

Lúc sinh thời, b

à tôi hay cho lá lốt vào bát nước rau muống, cho thêm cà chua và me, gọi là bát riêu nấu khổ, bát riêu của người nghèo không có tiền mua cá nhưng vẫn muốn và trôi bát cơm nóng giữa mùa đông giá rét. Với gia đình tôi, đây cũng là món ăn “gia truyền”, mỗi mùa đông về, bưng bát riêu nấu khổ lên, lại nhớ đến bà ngoại, một người phụ nữ vừa đẹp lại vừa tần tảo, tính cách mạnh mẽ, quyết đoán…

Advertisements
Published in: on September 18, 2007 at 10:32 am  Comments (1)  
Tags:

The URI to TrackBack this entry is: https://meongoan.wordpress.com/2007/09/18/cay-la-l%e1%bb%91t/trackback/

RSS feed for comments on this post.

One CommentLeave a comment

  1. chào em mèo ngoan. chị rất thích bài này của em, hôm nào chị tìm được cây lá lốt, thì chị trích dẫn bài cảm nhận này của em được không?


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: